Pages

2012/02/28

Cái toilet và quyền làm người


Cái toilet và quyền làm người

Nguyễn Hưng Quốc

Một lần, tôi vào phòng vệ sinh trong một trung tâm thương mại ở Bangkok. Tôi nhìn trước cửa thấy hình đàn ông và một chữ "Man" (Nam) to tướng. Nhưng mới bước qua khỏi cánh cửa chính, tôi giật thót người khi thấy một phụ nữ khoảng 40-50 tuổi đang lom khom quét dọn trên sàn nhà. Nhìn chung quanh, bốn hay năm người đàn ông đứng quay lưng lại…tè. Người tè thì cứ tè; người quét dọn thì cứ quét dọn. Thật tự nhiên.

Cảnh ấy, về sau, tôi thấy đi thấy lại nhiều lần. Các nữ công nhân hết sức thoải mái bước vào phòng vệ sinh nam quét dọn, lau chùi. Ai tiểu tiện hay đại tiện cũng mặc, họ cứ cắm cúi làm việc của họ. Cả họ lẫn những người đàn ông chung quanh hình như cũng đều thấy đó là chuyện bình thường. Không ai ngượng ngùng hay khó chịu cả.

Tôi nhớ đến các phòng vệ sinh ở Hàn Quốc. Nói chung, so với phần lớn các nước Á châu khác, phòng vệ sinh ở Hàn Quốc hiện đại và sạch sẽ hơn hẳn. Có lẽ hiện đại và sạch sẽ hơn ở Úc. Tuy nhiên, hầu hết các nhà vệ sinh ở Hàn Quốc, từ trong khách sạn đến các đại học và các khu vực công cộng đều có một đặc điểm giống nhau: chỉ có một lớp cửa chính (không kể cửa phòng nhỏ nơi có bồn cầu).

Ở Tây phương, các nhà vệ sinh thường có hai lớp cửa chính: Bước qua cánh cửa thứ nhất, hoặc người ta sẽ gặp khu rửa tay hoặc một bức tường chắn ngang. Người ta phải qua khỏi cái ngách sau bức tường chắn ngang hoặc đẩy thêm cánh cửa khác mới đến khu vực làm vệ sinh. Cách kiến trúc như vậy có hai mục đích: một, người đứng ngoài không thể nhìn thấy người ở trong phòng vệ sinh; và hai, người mới làm vệ sinh xong, có đủ thì giờ riêng tư để lấy lại tư thế tự tin khi bước ra bên ngoài.

Ở Hàn Quốc thì khác. Tất cả chỉ có một lớp cửa. Mở cánh cửa ấy là thấy ngay dãy bồn tiểu ở khu vực dành cho nam giới. Mà ở những nơi đông người, có lẽ để cho tiện, người ta rất ít khi khép cánh cửa chính ấy. Cứ để mở thông thống. Bước dọc theo hành lang trước nhà vệ sinh nam, liếc mắt vào, người ta sẽ thấy ngay cảnh một số người đang quay lưng lại đứng tè vào bồn. Mà có vẻ như người ta cũng rất tự nhiên khi đứng tè như thế. Lúc đầu, trong một phòng vệ sinh ở tiệm ăn, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cảnh ấy. Nhưng lại nghĩ: đó là tiệm ăn. Mấy ngày sau, làm việc ở một trường đại học, tôi cũng lại thấy cảnh ấy. Sau, đi đâu cũng thấy. Cũng cảnh những khu vực vệ sinh chỉ có một lớp cửa và cửa thì lúc nào cũng mở toang hoang như thế.

Ở Trung Quốc, trừ trong phi trường và khách sạn hạng sang, hầu hết các toilet công cộng đều là xí xổm, tức loại hố xí chỉ có bệ chứ không có bồn, theo kiểu các hố xí cổ điển ở Việt Nam trước đây. Ngồi trên hố xí ấy, chúng ta phải ngồi chồm hổm. Điều lạ là ngay ở những nhà hàng thuộc loại sang trọng, người ta cũng xây những kiểu hố xí như vậy. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở các phòng vệ sinh kiểu như thế nhiều khi không hề có giấy! Ngày đầu tiên ở Bắc Kinh, khi ghé lại tham quan một khu di tích lịch sử, mấy người phụ nữ trong tour du lịch của tôi vào nhà vệ sinh. Mấy phút sau, họ nháo nhác chạy ra, hỏi: Ai có khăn giấy (tissues) không? Cả bọn lục trong túi quần túi áo, có bao nhiêu khăn giấy đều giao hết cho họ. Sau đó, từ nhà vệ sinh ra, họ cho biết: trong đó không có giấy!

Hiện tượng không có giấy trong các nhà vệ sinh công cộng ở Trung Quốc có vẻ khá phổ biến. Hỏi người hướng dẫn tour du lịch thì được giải thích: để bao nhiêu giấy mất trộm bấy nhiêu nên người ta hoặc là không cung cấp giấy hoặc là để đâu đó ở phòng ngoài, có nhân viên canh gác.

Nhưng nói chung các phòng vệ sinh công cộng ở Trung Quốc, ít nhất ở các nơi tôi đã đi qua, từ Bắc Kinh đến Vô Tích, Tô Châu, Hàng Châu và Thượng Hải, đều khá sạch. Lúc nào cũng có người quét dọn. Có lẽ nhờ dân số nhiều, lực lượng lao động đông, nhất là lao động đơn giản với mức lương rẻ nên ở Trung Quốc nơi nào cũng thấy người quét dọn. Trước khách sạn và các trung tâm thương mại lớn cũng như trên các đường phố chính, lúc nào cũng có những nhân viên vệ sinh canh trực. Du khách mới ném một tàn thuốc xuống lề đường, vài phút sau đã thấy có người đến gắp mẩu tàn thuốc ấy. Các gạt tàn thuốc công cộng cũng có người đến dọn dẹp liên tục.

Thường, đó là cái chậu được đổ đầy cát để dọc theo bờ tường. Người hút thuốc sẽ dụi mẩu tàn thuốc xuống cát cho tắt lửa. Nhân viên vệ sinh đến nhặt các mẩu tàn ấy và cào cát lại phẳng phiu như cũ. Khi đi vào trung tâm thương mại ở Thượng Hải, tôi thấy có một nhân viên thường trực trong phòng vệ sinh nam. Anh cần mẫn đến độ cứ đứng ngay sau lưng khách khi họ rửa tay, thấy nước văng lên bàn, anh lại chùi ngay tức khắc. Khách tè văng xuống sàn nhà, anh cũng lại cầm giẻ lau. Buổi trưa, mới đến, tôi thấy anh ở đó. Buổi chiều, trước khi về, tôi ghé vào nhà vệ sinh lần nữa, cũng lại thấy anh đứng đó và làm những động tác tương tự.

Điều đáng nói là cách kiến trúc nhà vệ sinh ở Trung Quốc phần lớn cũng giống ở Hàn Quốc: chỉ có một lớp cửa. Tệ hơn Hàn Quốc, có khi người ta còn thường đặt khu vực rửa tay của nam và nữ chung. Ví dụ, bước vào cửa chính, chúng ta sẽ gặp ngay các bồn nước rửa tay cho cả nam và nữ, rẽ sang tay mặt là phòng vệ sinh nam; tay trái là phòng vệ sinh nữ. Từ phòng rửa tay vào hai dãy phòng vệ sinh cả nam lẫn nữa ở hai bên đều không có cửa. Bên phụ nữ, ít nhất người ta cũng có các phòng nhỏ tương đối riêng tư. Bên nam giới, trừ khi đại tiện, người ta mới vào các phòng nhỏ ấy; còn tiểu tiện thì cứ đứng quay mặt vào tường tè vào các bồn sứ dọc bờ tường. Đứng ở phòng rửa tay, người ta sẽ thấy rõ mồn một. Với người Trung Quốc, nhìn thế thấy quen. Nhưng tôi và bạn bè thì cứ ngường ngượng.

Như vậy, liên quan đến nhà vệ sinh, tôi nghĩ có đến hai cấp độ tiến hoá: Cấp thứ nhất, từ thiếu vệ sinh đến vệ sinh và cấp thứ hai, từ việc thiếu riêng tư đến riêng tư.

Nói đến nhà vệ sinh, chúng ta hay nghĩ đến cấp thứ nhất. Dĩ nhiên đó là một cấp quan trọng, quan trọng đến độ nhiều nhà khoa học cho việc phát minh ra nhà vệ sinh là một trong những phát minh quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: nhờ đó, các bệnh dịch giảm hẳn, sức khoẻ con người tốt hơn và tuổi thọ cũng tăng cao hơn. Nhưng còn một khía cạnh khác cũng được một số nhà tư tưởng chú ý: chính việc phát minh ra nhà vệ sinh dẫn đến ý niệm về sự riêng tư, và từ đó, cùng với một số yếu tố khác, dẫn đến việc hình thành chủ nghĩa cá nhân vốn là một trong những trụ cột chính trong nền văn minh và văn hoá Tây phương.

Thời gian ngồi trong toilet, người ta không những giải quyết các vấn đề sinh lý thiết yếu mà còn được hưởng thụ cảm giác một mình, hoàn toàn một mình mình, với thân thể và những vật thải từ thân thể của chính mình. Hoàn toàn một mình. Không chia sẻ với ai được. Cảm giác ấy dần dần làm nảy nở ý niệm về riêng tư. Và ý niệm về riêng tư dần dần trở nên một cốt lõi của chủ nghĩa cá nhân.

Những năm tháng đầu tiên khi người Việt ra sống ở hải ngoại, phần lớn, với những mức độ khác nhau, đều có kinh nghiệm về các cú sốc văn hoá. Chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, cú sốc văn hoá đầu tiên là trong quan hệ với con cái. Con cái, sau một thời gian ngắn đến trường, đã học được bài học đầu tiên của Tây phương: bảo vệ sự riêng tư của mình và tôn trọng sự riêng tư của người khác. Do đó, từ trường về nhà, chúng vào phòng riêng, khép cửa lại. Bố mẹ muốn vào: phải gõ cửa. Thư từ của chúng, bố mẹ không được mở ra đọc. Với chúng, đó là quyền. Là nhân quyền. Nhưng bố mẹ, từ Việt Nam sang, không thể không thấy khó chịu. Phải mất nhiều năm, người ta mới hiểu và mới chấp nhận được điều đó.

Chúng ta hay nói đến dân chủ và nhân quyền nhưng thường hay quên: tôn trọng sự riêng tư của người khác cũng là một hình thức dân chủ và nhân quyền.

Cách xây dựng nhà vệ sinh, do đó, cũng là cách thiết kế những nền tảng đầu tiên của nhân quyền. Và dân chủ.

Nguyễn Hưng Quốc
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/toilet-va-quyen-lam-nguoi-02-22-2012-140016563.html

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Việt Nam Cộng Hòa là cái gì và ai là Việt Nam Cộng Hòa?

Việt Nam Cộng Hòa là cái gì và ai là Việt Nam Cộng Hòa?


Tiên Sa

Ba tôi, một quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nay đã ngoài "thất thập cổ lai hy", ngay chính cái computer riêng để ngày ngày trầm ngâm ngồi đọc tin tức ba tôi cũng dùng lá cờ Vàng ba sọc đỏ làm nền (background). Đã nhiều lần tôi hỏi "Ba suy nghĩ gì về lá Cờ đó và Việt Nam Cộng Hòa" nhưng chưa một lần nào ba tôi trả lời, cho dù chỉ một tiếng, mà những lần như vậy thì từ đang sinh động trở nên trầm ngâm, có lúc trở nên bực dọc. Qua nhiều lần như vậy nên tôi không muốn khuấy rầy nữa.

Qua 16 năm, đã nhiều lần còn sống được là nhờ một trợ lực từ một bàn tay siêu hình nào đó, mang trên trán không biết bao nhiêu danh hiệu cao quý, nào là con Ngụy Quân Ngụy Quyền, nào là thành phần Phản Động, thành phần Xấu, thành phần Nguy Hiểm, rồi đến Bọn Phản Quốc, Vượt Biên, Bọn Thèm Bơ Thừa Sữa Cặn, Bọn muốn bám theo gót giày đế quốc Mỹ vân vân… với một đời sống Tù Là Nhà Lệnh Tha Là Giấy Phép dưới một chế độ ưu việt của một thứ chủ nghĩa Đỉnh Cao Trí Tuệ Của Loài Người do Bác du nhập vào Việt Nam và Đảng đã đem nó vào nhuộm đỏ nốt miền Nam sau khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bỏ chạy, tôi đặt chân được đến nước Mỹ. Một trong những cảm giác nhẹ nhõm và thoải mái đầu tiên là trong đêm ngủ không còn bị nghe những tiếng đập cửa rầm rầm kiểm tra hộ khẩu nữa, không còn cái ám ảnh lúc nào cũng phải sẵn sàng để đứng nghiêm: "Tôi (họ và tên) , số giam (số tù), báo cáo cán bộ có mặt!". Và chỉ bấy nhiêu cũng đã đủ với tôi: "À! Bơ thừa sữa cặn là đây rồi!"

Bơ thừa sữa cặn!                
                                                     
Vâng! Bơ thừa sữa cặn là đây rồi! Sống mà chẳng có hộ khẩu, đi đâu cũng chẳng cần đăng ký tạm vắng tạm trú. Nay ở đây, mai thích chỗ kia và nếu trong túi có tiền thì chỉ việc lái xe chạy tới đó mà chẳng có con ma nào hỏi mình từ đâu đến, hộ khẩu thường trú ở đâu, bản thân và ông bà cha mẹ qua hai thời kỳ kháng chiến làm gì, có tham gia gì cho địch và ta hay không… và cũng chẳng có ông trời con nào vô cớ mà hỏi mình bất kỳ một thứ giấy tờ gì!Vâng! Bơ thừa sữa cặn là đó rồi!Nhưng không hẳn thế! Có bơ thừa sữa cặn thật!Tìm được một việc làm khá hơn ở một nơi khác, lúc đó còn thưa thớt người Việt nhưng lại có một nhóm gọi là Kháng Chiến! Tôi thì chẳng quan tâm hay để ý gì đến những cái này vì ngay trong gia đình tôi cũng đã có nhiều người ở Mỹ từ lâu rồi, người thân thuộc và bà con thì vô số nên cũng đã nghe nói rất nhiều về mấy cái vụ "Khiến Chán" này rồi.Một hôm cũng không ngờ là trong một ngày nghỉ muốn tò mò xem một sự kiện mà tôi lấy làm lạ là vì được nghe là "Bọn Việt Cộng qua đây tuyên truyền." Cũng đến coi thử nhưng chưa kịp biết mô tê gì cả thì có một người đến vỗ vai bảo tôi ra ngoài đứng cầm cờ biểu tình với anh em, đồng thời đưa cho tôi một cái áo choàng có viết mấy chữ POW (tù nhân chiến tranh thì phải). Tôi nói là trước 1975 tôi còn nhỏ, chưa có lính tráng mà làm sao lại mang cái áo POW? Tôi từ chối và kể cả việc cầm cờ đứng biểu tình vì tôi có biết là biểu tình để làm cái chi chi mô! Ngày hôm sau đi làm về thì chuông điện thoại reo hết hồi này đến hồi khác mà câu hỏi cũng chung quy là tôi đã làm gì mà ở đây ai cũng nói tôi là Việt Cộng.

Chẳng hiểu mô tê gì hết! Cuối tuần thì một ông anh bạn trước kia là Đại úy Biệt Động Quân tới rủ đi đánh bi da và cũng thắc mắc về sự việc có nhiều người hỏi anh ta rằng tại sao thấy anh ta hay đi với thằng Việt Cộng đó (là tôi). Thiệt tình là cũng chẳng biết duyên cớ làm sao. Sau khi anh ta hỏi là lâu nay tôi có quan hệ hay động chạm gì với mấy cái "đám kháng chiến, khiến chán" nào đó ở đây hay không thì tôi mới vỡ lẽ ra. Anh ta xác định là đó rồi và cất mấy tiếng chửi thề. Bơ thừa sữa cặn là đó rồi! Tôi hỏi thăm và tìm tới ngay nhà của vị Nhóm trưởng nhóm kháng chiến tại vùng này và gặp ông ta. Tôi hỏi ông ta là mục đích của Nhóm Kháng Chiến là gì, ông ta trả lời là Phục Quốc. Tôi hỏi cái gì là Phục Quốc, ông ta trả lời "thì là vì mất nước nên mới phục quốc chớ cháu hỏi gì kỳ dzậy?"
 
1
 
 Tôi với ông ta nói chuyện với tư cách chú cháu.Tôi hỏi ông ta nước Việt Nam của chú ai cướp mất mà đi Phục. Ông ta trả lời là thì Cộng Sản chiếm lấy chớ còn ai? Tôi hỏi Cộng Sản là một chủ thuyết chính trị chớ nó có hình tướng gì đâu mà đi cướp nước? Còn nếu nói là mất nước thì chú coi thử hiện nay có phải người Việt Nam cai trị người Việt Nam hay là người nước nào cai trị mà chú bảo là mất nước? Tới đây thì kể như chủ đề đó có phần bế tắc.
 
1
Hoa kỳ rút hết quân như đã ký kết hiệp định paris
 
Tôi hiểu ý và không nói về vấn đề đó nữa mà chuyển sang vấn đề Việt Cộng. Tôi hỏi những người hiện nay nằm trong nhóm Kháng Chiến của chú qua Mỹ đã bao lâu rồi thì được cho biết là hầu hết đều chạy qua hồi 1975. Lúc đó phần thì còn trẻ, phần thì cũng vừa mới thoát khỏi cái thiên đường Bác và Đảng chưa được bao lâu nên nghe qua là bị xốc ngay, cái nóng và cái bực nó nổi lên trong người, tôi nói thẳng "Nè chú, người thì người miền Nam mà Cộng Sản thì từ miền Bắc và chưa vào đã bỏ chạy rồi thì biết Cộng Sản là cái gì mà gặp ai cũng nói là Việt Cộng vậy chú?" Bơ thừa sữa cặn là đó! Cái bầy Chống Cộng Tạp Nhạp Ruồi Bu là đó! Lúc còn Việt Nam Cộng Hòa thì quần áo ủi hồ thẳng cứng và bóng loáng, quân hàm tướng tá gắn đầy mình rực rỡ, khi Cộng Sản vào chưa tới đâu cả thì đã bỏ lính như rắn không đầu ngoài chiến trường âm thầm chạy về tẩu tán vợ con và của cải để túm quần chạy, chưa hề biết Cộng Sản là cái quái gì, qua tới Mỹ rồi thì núp trong cái lô cốt an toàn khổng lồ của Mỹ mà quát cái miệng om sòm ra Chống Cộng với Chống Xuồng, hễ gặp người nào mà bảo họ làm theo ý mình không được thì chụp cho cái nón cối Việt Cộng. Bơ thừa sữa cặn là đó! Cái bầy Chống Cộng Tạp Nhạp Ruồi Bu là đó! Cái này tôi đã nói công khai và nhiều lần trên internet cách đây đã hơn 10 năm rồi.

Lúc đó có kẻ gởi email tới đòi bắn tôi và tôi cũng đã chỉ chỗ tôi ngủ rất rõ ràng và rất dễ cho bọn chúng hành động nhưng chắc là nhờ phúc đức ông bà hay sao đó nên đến giờ này tôi mới còn được ngồi léo ngoéo ở đây. 
Việt Nam Cộng Hòa là cái gì? Việt Nam Cộng Hòa không phải là những cái bầy Chống Cộng Tạp Nhạp Ruồi Bu như vậy! Việt Nam Cộng Hòa không phải là những kẻ lúc được thời thì vỗ ngực xưng danh, lúc tất cả binh lính đang sống chết ngoài chiến trận thì âm thầm túm quần, gom của để bỏ chạy, mặc cho hàng triệu chiếc nón sắt trung kiên vung vãi một cách oan khiên nghiệt ngã trên khắp chiến trường. Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, lần thứ nhất thành Hà Nội mất vào tay giặc Pháp, Nguyễn Tri Phương bị thương, giặc Pháp cứu chữa nhưng ông xé bông băng, nhịn đói chết theo thành. Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, thành Hà Nội bị tấn công và rơi vào tay giặc Pháp, Hoàng Diệu cho binh lính giải tán để tránh tử thương rồi mới treo cổ tự tử trước võ miếu. Thành mất thì tướng chết theo thành. Nước mất, một trời đau thương tang tóc thì Tổng Thống và nguyên một bộ sậu vẫn sống phây phây. Việt Nam Cộng Hòa là cái gì và ai là Việt Nam Cộng Hòa?

Tiên Sa

2012/02/27

Từ đạo Phật nghĩ về cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa

Từ đạo Phật nghĩ về cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa

Thái Nam Thắng
Kể từ khi khái niệm "toàn cầu hóa" ra đời, thế giới đã chuyển sự chú ý vào văn hoá. Và chỉ trong một thời gian ngắn, văn hóa truyền thống đã trở thành nền tảng cho mọi sự phát triển bền vững, toàn diện, trong khi trước đó không xa, người ta chỉ xem nó như một nét viền mờ nhạt của kinh tế. Lẽ ra thế giới phải nhận thức về vai trò quan trọng của văn hoá truyền thống từ lâu rồi mới phải. Nhưng vì sao lại có sự chậm trễ này?

Câu trả lời có lẽ không gì khác hơn ngoài sự trả giá của nhiều nền văn hoá, văn minh. Đã có không ít dân tộc "mất tên" trên bản đồ văn hoá thế giới, hoặc thảng thốt nhận ra mình chỉ còn là một nền hoá nghèo nàn, lệ thuộc, thiếu bản sắc...  Nếu trong lúc này, chúng ta nói người Việt Nam đang có xu hướng ấy thì rất có thể sẽ bị  cho là rơi vào chủ nghĩa bi quan. Tuy nhiên, cái vươn vai thức dậy của kinh tế Việt Nam trong hơn một thập kỷ nay và những tác động tiêu cực đi theo nó không khỏi khiến người ta phải suy tư thêm về khái niệm "phát triển bền vững".

Song song với xu thế toàn cầu hóa là những cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa, văn minh. Khái niệm "đụng đầu" được thay bằng khái niệm "giao lưu, hội nhập", và người ta tuy đã có thể ngồi lại với nhau nhưng nói cho "vừa lòng nhau" là một điều đáng suy nghĩ. Vấn đề không còn nằm ở nội dung nói mà là ở cách nói, cho nên cái "vừa lòng nhau" ấy càng nói càng xa mục đích ban đầu mà nó muốn nói, mục đích đối thoại. Chúng ta cần ý thức rằng, một nền tảng văn hoá thế giới không thể xây dựng trên tư tưởng gây tội rồi xin lỗi, phá huỷ rồi xây dựng, âm mưu giết hại rồi gửi lời chia buồn, hay xí xóa cho xong chuyện...

Người Việt Nam không nên nhớ qúa khứ của mình bằng hận thù, song cũng không thể quên đi quá khứ của mình bằng những đồng tiền viện trợ hay những cái lợi trước mắt. Vì sao? Vì  quá khứ đau thương của dân tộc phải trở thành một bài học sâu sắc về lòng khoan dung và tinh thần độc lập tự chủ. Từ hiện tại, nghĩ về tương lai và đối xử công bằng với quá khứ đó là cách mà chúng ta nên sống. Sống không phải chỉ nhằm vào mục đích "làm ăn" mà còn vượt qua những nghi kỵ và thù hằn, để nói tiếng mẹ đẻ một cách thân thương, để ghi tâm khắc cốt bài ca dao: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau"...

Trong lúc nền văn hóa, văn minh của thế giới đang chuyển dần sang thế đối thoại, chúng ta phải nói như thế nào? Và đối thoại có phải chỉ đơn thuần là nói hay không?

Hiển nhiên, đối thoại không hẳn chỉ là nói, bởi các cụ ta từng dạy: "nói là bạc...". Đối thoại còn nằm ở cách chúng ta ăn, mặc, ở, ứng xử... bằng nội lực văn hóa của chính mình. Vậy chúng ta đã ăn, mặc, ở và ứng xử như thế nào? Đối thoại về văn hóa có phải chỉ để "làm ăn" với nhau, để sinh ra cái gọi là "lợi ích vật chất"? Mục đích của đối thoại văn hóa phải cao hơn cái nhu cầu "hầu bao" đó, có như vậy, chúng ta mới có tinh thần minh mẫn để hiểu mình, để tôn trọng lịch sử và sự thật, bằng không chúng ta đã vô tình đưa diễn đàn đối thoại văn hóa cho "những khổng lồ kinh tế" làm chủ. Vấn đề là cho dù hội nhập nào, đối thoại nào cũng cần có thời gian để nghỉ, nghỉ để nhìn lại mình, để ăn, mặc, ở, để quây quần bên nhau quanh chiếc mâm tròn, để hát lên những bài hát ru của mẹ, để gieo vào trong tâm những niệm yêu thương, niệm hiểu biết,..., để sau một giấc ngủ, tỉnh dậy rồi, chúng ta còn biết ngôi nhà của mình vẫn còn nguyên vẹn.

Khi xưa, "con đường tơ lụa" là bước giao thương, giao lưu đầu tiên về văn hóa và kinh tế giữa châu Âu và châu Á. Lúc đó, "con đường tơ lụa" đẹp như chính tên gọi của nó. Cả châu Âu đứng lặng trầm trồ nhìn ngắm và thấy được đằng sau nó là cả một thế giới tâm linh sâu lắng hiền hoà của không ít các dân tộc được sinh ra và được sống trong câu niệm Phật... Và những dân tộc ấy đã đến với phương Tây bằng lụa chứ không phải bằng súng đạn, bạo lực. Cái tinh xảo, khéo léo, hiền hoà không bao giờ làm cho người ta sợ hãi. Thế nên, sự gặp gỡ giữa những cái đẹp của hai phương trời diễn ra như một tất yếu, không cái nào tổn hại cái nào, trong chừng mực của lòng tôn trọng và hiểu biết.

Cũng trong bối cảnh đó, ông cha ta thật tinh tường khi sáng tạo ra thần thoại, cổ tích với một thông điệp lo âu về "cái đẹp bị đánh cắp". Càng giao lưu, càng gần nhau, người ta càng nảy sinh sự so sánh hơn kém, mà ở đâu có so sánh ở đó có chọn lựa. Điều đáng nói là sau khi nhìn ngắm rồi, người ta bắt đầu nhòm ngó, và cũng trong lúc ấy, cái đẹp đã bị "đánh cắp" theo cách riêng của mỗi người. Càng có nhiều người "đánh cắp" thì càng tạo ra nhiều sự cạnh tranh, chia, nhượng, thậm chí là giành giật. Cuối cùng để thoả mãn với nhau người ta buộc phải chia nhỏ cái đẹp ra, và ngay lập tức, cái đẹp bị chà đạp. Vậy ra, mục đích cuối cùng của những bộ óc xâm lăng ấy không phải vì bấy lâu họ qúa thiếu thốn cái đẹp mà vì họ không thoả mãn được cái lợi.

Nhưng nói gì thì nói, cách thức "đánh cắp" mới là vấn đề mà chúng ta cần phải đối thoại với nhau một cách thẳng thắn. Người phương Đông vui vẻ nói với nhau rằng rác là hoa, hoa là rác để tìm cách ứng xử đẹp với cuộc đời. Cụ Nguyễn Du nói: "Hoa tàn rồi lại thêm tươi". Chỉ một câu tin yêu ấy, người ta có thể khóc lên vì sung sướng, sung sướng cho nhiều thế kỷ dân tộc đã sống dậy từ trong đau khổ, thù hận, từ rác, từ bùn, từ tủi nhục,... như thế. Nhưng cho dù sống dậy từ cái gì đi chăng nữa nó cũng phải tươi, phải đẹp, phải khoan dung độ lượng... Vì sao? Vì Bụt bảo khổ đau tương quan với hạnh phúc. Mỗi khi thấy người hiền gặp nạn, Bụt hiện ra và hỏi: "Tại sao con khóc?". Cả dân tộc đã suy nghĩ, lắng nghe cơn gió vô thường ùa về, và nhìn những hận thù tan đi...  Cho đến khi  tiếng vó ngựa xâm lăng lại hý lên. Bụt lại hiện ra: "Con đừng khóc nữa mà hãy nhìn vào cơn giận của chính mình". Nhưng mọi người không thể không khóc. Và chắc chắn Bụt sẽ bảo: "Con hãy khóc đi, khóc xong rồi con sẽ cảm nhận được thế nào là hạnh phúc, biết khóc là một hạnh phúc, khổ đau là một hạnh phúc, và nếu chưa khổ đau các con hãy khổ đau đi". Và cụ Nguyễn Du lại từ trong tâm thức của Bụt mà nói: "Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa"...

Chúng tôi muốn nói đến Việt Nam như nói đến một cái đẹp thường xuyên bị vùi dập. Một nghìn năm bị vùi dập, một trăm năm bị vùi dập. Bởi thế, chưa lúc nào dân tộc ngừng thao thức: "Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?". Về đâu? Phải trở về quê hương tâm linh để nhận ra minh châu còn ở trong lòng, có như vậy, cái vô giá nhất ấy mới không bị đánh mất. Chỉ có thế mới giữ lòng thuỷ chung với dân tộc, với cái đẹp, và chỉ có thế "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Hậu thế góp nhặt điều "dông dài" của cụ Nguyễn Du để nói lên điều mình muốn nói. Việt Nam như một "anh nhà quê với cái đầu luôn luôn phải đội nặng", đội nặng một nghìn năm, đội nặng một trăm năm... Vâng đúng như vậy, chúng tôi nói là đội nặng chứ không phải cúi đầu. Bởi Đức Phật đã nói rằng, chúng sinh đều bình đẳng..., Phật không "dỗ nín" ai mà Phật chỉ dùng nhân quả để cân đo thiện-ác.

Hội nhập kinh tế và văn hoá là một tất yếu trong thế giới mà mọi trật tự chỉ là tương đối. Thế nên, trong vô vàn các điều kiện để hội nhập, sự điều chỉnh mình tất yếu phải diễn ra và không phải cái gì cũng khách quan, công bằng...

Hai nghìn năm về trước, Trung Hoa đã tiến hành chiến tranh xâm lược và áp đặt văn hóa lên dân tộc Việt. Một nghìn năm sống trong ách đô hộ, người Việt buộc phải dùng chữ Hán để bổ sung cho cái khuyết điểm mang tính lịch sử của mình, đó là "không văn tự". Nhưng cũng lúc ấy, đạo Phật hiện diện trên quê hương Việt Nam, người Việt đón chờ đạo Phật như đón chờ một người thân xa quê trở về. Người Việt đã tiếp nhận đạo Phật, và cả dân tộc Việt đã gọi Phật là Bụt bằng tiếng mẹ đẻ thiêng liêng của mình. Chúng tôi dùng từ tiếp nhận bởi đó là hệ luận của một cuộc vận động ý thức hệ tư tưởng quan trọng nhằm đối kháng với Trung Hoa.

Kể từ buổi bình minh của dân tộc, đạo Phật đã cùng với dân tộc đội chung khối nặng ấy, và tiếng nói trong trẻo của dân tộc vẫn không ngừng cất lên ngay cả lúc khổ đau nhất. Như một tất yếu, những tranh luận xảy ra trên bình diện ý thức hệ của đạo Phật đã nhóm lên cho dân tộc Việt một hướng đi mới. Và suốt một nghìn năm cùng nói chung một thứ tiếng, đạo Phật đã đi vào cổ tích, huyền thoại của dân tộc Việt, để khi lần đầu tiên dân tộc lấy lại được quyền độc lập tự chủ, chùa Khai Quốc (Mở Nước) xuất hiện, cũng là lúc cả dân tộc xác nhận vị trí, vai trò của đạo Phật trong trái tim mình. "Trời còn để có hôm nay, Vén sương đầu ngõ tan mây giữa trời"(Truyện Kiều), và bài tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc vang lên xua tan giấc mộng xâm lăng của phương Bắc. Kế đến, sự hưng thịnh của dân tộc và đạo Phật thời Lý - Trần đã mở ra một thời kỳ thanh bình, thuần từ, khoan dung nhất trong lịch sử dân tộc.

Trong kỷ thuộc Minh, đạo Phật vẫn gìn giữ mạch chảy tâm linh của dân tộc. Chính vì thế, lý luận Nho giáo đến từ phương Bắc buộc phải vận động cho một cuộc cải cách mang dấu ấn Việt để tồn tại. Càng mang dấu ấn Việt bao nhiêu thì khuynh hướng "cư Nho mộ Thích" càng diễn ra nhanh chóng bấy nhiêu. Không ít những nhà văn hóa tư tưởng, thậm chí những người có thái độ bài xích đạo Phật đã dẹp đi mọi niềm nhân ngã để trở về quy ngưỡng với đạo Phật, yêu kính Phật và niệm Phật. Đều đặn như thế, 108 tiếng chuông chùa vẫn hàng ngày ngân rung trên làng quê Việt Nam, không ngừng đánh thức hồn dân tộc.

Sau kỷ thuộc Minh, sự đô hộ đáng kể nhất của ngoại bang chính là cuộc xâm lăng của thực dân Pháp; cuộc xâm lăng này đã đẩy dân tộc vào giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử. Một thách thức mang tính sống còn khi tiếng súng đại bác và lòng hận thù vung vãi trên quê hương Việt Nam. Lúc ấy, hoạ mi có thể tắt tiếng nhưng câu niệm Phật và tiếng chuông chùa vẫn đều đặn ngân lên, nức nở ngân lên: "Trần kiếp vì đâu oan khổ?"...

Trong các cuộc xâm lăng, vẫn chỉ có thế, cái đẹp luôn luôn bị nhòm ngó và chiếm đoạt. 100 năm mà đau hơn cả nghìn năm, người Việt lang thang đi tìm mẹ Âu Cơ của bốn nghìn năm để không trở thành đứa trẻ mồ côi.

Sau những cuộc đối đầu cực đoan của chính sách "sát tả", triều đình ngày càng trở nên bất lực trước thế mạnh quân sự của thực dân Pháp, Nho giáo tàn lụi theo, lô cốt đi đến đâu thì nhà thờ mọc lên đến đó, và khi đại diện cao nhất của triều đình bán nước nhà Nguyễn chịu phép rửa tội thì cũng là lúc những người Việt Nam thiết tha với dân tộc cảm thấy mình có tội, không phải là "tội tổ tông" mà là tội với anh linh dân tộc.

Người Pháp vui mừng vì Nho giáo không đánh cũng tan, vậy điều gì còn lại khiến họ lo lắng? Ở phạm vi quân sự, các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ chưa đủ để người Pháp lo lắng, bởi lúc đó họ đã có tay sai đắc lực là triều đình đối phó. Người Pháp tuy mới đến Việt Nam nhưng cũng hiểu sâu sắc thế nào là câu "mỡ nó dán nó", ngon lắm. Có không ít người Việt cũng thấy ngon khi ăn thứ mỡ ấy, nhưng ăn mỡ nhiều thì rất dễ bị tắc tiếng.

Vì sống quen với "nhạc trời" nên điều mà người Pháp cảm thấy khó chịu, bất an nhất có lẽ không gì ngoài tiếng chuông chùa và câu niệm Phật, cứ thế, như cỏ mọc, dai dẳng và bất trị. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, chùa chiền lại trở thành nơi lý tưởng để xây cất nhà thờ. Đau xót biết bao, những ngôi chùa đã nghìn năm sống trong tâm thức dân tộc bị tàn phá không thương tiếc, điều mà Nho giáo khi xưa dù có cực đoan đến đâu cũng không bao giờ đối xử với đạo Phật như thế. Nhưng cũng chính trong cơn vô thường ấy, đạo Phật  đã hóa thân vào cuộc sống. Phong trào duy tân của hai nhà trí sĩ họ Phan như một luồng gió mới thổi vào tinh thần yêu nước của toàn dân tộc. Các cụ đã thống thiết kêu gọi "bài Nho hưng Phật", và tình nguyện từ bỏ hệ tư tưởng mà mình đã theo đuổi suốt cuộc đời, để tìm đến đạo Phật, mong rằng tiếng chuông tỉnh thức của Phật có thể gội sạch những linh hồn lầm lỗi như hàng nghìn năm trước Bụt đã làm. Trước đó, ở phía bên kia biên giới, trong phong trào duy tân, Lương Khải Siêu cũng đã kêu gọi "bài Nho hưng Phật". Rất có thể sự kiện này sẽ là một "mâu thuẫn" khó có lời giải, bởi khi chưa đối mặt với phương Tây, Phật giáo đã từng bị bỏ quên, thế mà bây giờ nó lại trở thành một sự lựa chọn "mới".

Không lạ sao được khi đạo Phật Việt Nam lúc này không có đại bác, súng ống hiện đại, không có quyền lực, tiền của hậu thuẫn... chỉ có những pho tượng Phật lặng ngồi ngắm nhìn dòng chảy vô thường trôi đi, trôi đi; chỉ có những tiếng chuông chùa, câu niệm Phật; chỉ có giọt lệ bi tâm trong những đêm thiền truyền đời nhỏ xuống... Vậy người ta chọn đạo Phật để làm gì? Phải chăng ở tầm văn hóa, đạo Phật chính là nguồn nội lực văn hóa tâm linh của dân tộc trong suốt hơn hai nghìn năm hội tụ? Có thể người ta đã nhận ra tinh thần vô ngã, khoan dung, bất bạo động của Phật giáo chính là tấm gương phản chiếu, nhìn vào nó quân xâm lược như nhìn vào kính chiếu yêu, nhưng tấm gương ấy không phải để chiếu ra quỷ, ra yêu mà để con người có cơ hội nhìn thấy mình còn là con người đúng nghĩa.

Phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời, vượt ra khỏi chủ ý "nhân văn mị dân" của thực dân Pháp sau những vụ cướp phá chùa chiền và huỷ hoại di  sản vật thể và phi vật thể của dân tộc. Mạch nước ngầm văn hóa tâm linh của dân tộc một lần nữa lại được Phật Mẫu Man Nương điểm huyệt, hồn thiêng sông núi và câu niệm Phật thân thương từ nghìn xưa vọng về trong bom đạn, khổ đau và tủi nhục. Nghìn năm trước, người tăng sĩ đã bước lên đỉnh núi hét một tiếng dài làm lạnh cả thái hư, nghìn năm sau chiếc y vàng phải trải qua không ít lần tắm máu, nhưng câu niệm  Phật và lòng khoan dung thì không bao giờ thay đổi. Những "cô tấm-sinh viên" lại ngồi chụm đầu vào nhau mà khóc, khóc vì bị dì ghẻ ghét ghen, hãm hại. Và Bụt lại hiện ra: "Con hãy đi tìm cái đẹp từ trong đống tro tàn của thù hận kia". Khi Bồ tát Quảng Đức hoá thân, giọt lệ bi tâm của cả dân tộc đã dồn tụ lại thành trái tim bất diệt. Lửa khoan dung, bất hại cháy lên, hồn dân tộc sáng bừng trong tỉnh thức. Phật giáo Việt Nam - dân tộc Việt Nam nhập vào làm một, và trái tim của mọi miền đất nước, của thế giới yêu hòa bình đều cùng nhau thổn thức. Nói như thi sĩ Vũ Hoàng Chương: "Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt, Nhìn nhau tình huynh đệ bao la...".

Không hiểu sao, cho đến hôm nay, trong những cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, văn hoá Á - Âu, lại có người cho rằng "Nếu nói cho đủ thì trong tiến trình lịch sử của mình, Việt Nam lại còn có cơ hội tiếp cận (vì lý do chiến tranh và ý thức hệ) với nhiều nền văn minh..." và "Chiến tranh thật khốc liệt với nhiều tội ác và thương tích nhưng đó là một thế kỷ đủ giúp Việt Nam bứt ra khỏi cái thế giới Trung Hoa truyền thống không chỉ về chính trị mà quan trọng hơn là sự tiếp nhận những giá trị văn của văn hoá phương Tây, trở thành một phần di sản và bản sắc của văn hoá Việt Nam hiện đại". Sao lại có thể nhận thức kiểu "không vỏ dưa thì vỏ dừa" như thế.

Chiến tranh là một nguyên nhân, một cơ hội làm cho dân tộc chúng ta đẹp như hôm nay sao? Nói cho "vừa lòng nhau" như thế thì đau lắm. Con đường tơ lụa mà Âu - Á khi xưa gặp nhau không có chiến tranh mà vẫn đẹp. Đành hanh một tí mà nói thì kết quả tất yếu của một hệ suy như vậy sẽ dẫn đến quan niệm "không có chiến tranh (đặc biệt là chiến tranh của Pháp) có lẽ người Việt vẫn còn ăn lông ở lỗ trong cõi mù mờ nào đó...". Nếu chiến tranh có thể mang lại nhiều cái đẹp cho dân tộc ta như thế thì quả thật việc khát khao hoà bình chỉ còn là chuyện hết sức vớ vẩn. Có thể có cái đẹp nào mà không có chiến tranh không? Hiển nhiên là có. Có sự giao lưu nào không cần đến chiến tranh không? Hiển nhiên là có. Đạo Phật và dân tộc Việt đã gặp nhau và thương nhau là một minh chứng. Nếu lúc này thế giới chưa thể tìm lại được cái điều hiển nhiên ấy thì chúng ta cũng không thể nhận thức văn hóa theo kiểu hãy "đưa trứng vịt cho gà ấp" để kết quả sẽ nở ra những con vịt cứ nhận lầm gà là mẹ..., đau đến tức cười.

Có thể nói, sự hội nhập văn hoá, văn minh cần thiết nhất cho hạnh phúc con người phải là sự hội nhập tình nguyện và tự nguyện, không phải vì lý do ép buộc, nhân nhượng, đánh đổi, bằng chính trị, quân sự, kinh tế, "hôn nhân"... càng không thể vì lý do chiến tranh. Nếu không nhận thức một cách đầy đủ về vấn đế này, mọi người dù có ngồi lại thảo luận với nhau trên triệu triệu trang giấy thì thế giới cũng vẫn chỉ là một nền văn hóa, văn minh bị "những người khổng lồ" thao túng. Khi xưa các cụ ta đã sáng tạo ra biểu tượng "tri hành hợp nhất" bằng hình ảnh Phật Bà nghìn mắt nghìn tay và hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm ứng đủ muôn thân để độ chúng sinh viên mãn, là các cụ ta đã gửi gắm ý nghĩa đầy đủ nhất của sự thống nhất trong đa dạng. Đó cũng chính là lý do để đạo Phật - nền văn hoá tâm linh của dân tộc, tiếp xúc, đối thoại 1.000 năm với Trung Quốc, 100 năm với phương Tây mà vẫn đứng vững và trở thành thành tố quan trọng của văn hoá dân tộc. Từ thực tiễn sinh động đó, chúng ta tin rằng Đạo Phật có khả năng cùng với dân tộc đối thoại với bất kỳ nền văn hoá, văn minh nào ngay cả trong những lúc tưởng chừng như im lặng...

Thái Nam Thắng


NGƯỜI KHÔNG CHÂN TAY


NGƯỜI KHÔNG CHÂN TAY

Không chân không tay vẫn chơi đàn và dùng máy tính. Đó là cuộc sống của một thanh niên Đức có tên Christian (26 tuổi). Bởi ngay từ khi chào đời, cậu bé đã không có chân tay do bị khiếm khuyết về Gene. Mặc dù vậy, bằng một nghị lực phi thường anh vẫn tốt nghiệp THPT, chơi đàn và dùng máy tính...



Chơi đàn...

Mặc dù vậy, chàng thanh niên đến từ Mecklenburg Vorpommern - Đức không hề bị khuất phục trước số phận quá ư nghiệt ngã. Anh vẫn học tập, vui đùa, có nhiều bạn bè, và đặc biệt anh luôn có một trái tim đầy hoài bão.


Và giao tiếp với bạn bè qua internet

Khi phóng viên của báo Bild xuất hiện, Christian với cân nặng chỉ 19 kg, đang ngồi trên ghế sô pha ở phòng khách. Chủ nhà đã "chìa" cái vai bên phải của mình ra và nói: "Anh có thể đặt tay vào đây thay cho cái tay nhé!" Bắt nguồn từ đâu mà Christian lại có được một nghị lực, một khát vọng sống mãnh liệt đến vậy? Có lẽ mọi trở ngại, dù là nhỏ nhất trong cuộc sống, mà anh đã vượt qua làm cho anh mạnh mẽ hơn, bởi con người phi thường này đã phải vật lộn với cuộc đời ngay từ khi lọt lòng mẹ. Cha mẹ đẻ của Christian đã bỏ rơi đứa con tật nguyền của họ, ngay từ khi mới được sinh ra. Nhưng đến khi được 10 tháng tuổi, bé Christian đã được người mẹ nuôi có tên là Gisela (74 tuổi) nhận về nuôi dưỡng.


Christian (26 tuổi) bên người mẹ nuôi Gisela (74 tuổi).


Việc di chuyển trong nhà đã có mẹ nuôi đảm nhận.

Kể từ đó, mẹ Gisela đã trở thành "đôi chân" và "hai tay" của Christian, trở thành cái "máy gãi, thiết bị di chuyển, cái nút bấm và công tắc điều khiển…" của cậu con nuôi. Suốt 26 năm qua, người mẹ nuôi đầy lòng nhân ái này đã đánh răng, tắm giặt, chải tóc… cho Christian, và cần mẫn bế anh vào nhà vệ sinh, ngay cả khi bà đã ở vào tuổi 74. Phóng viên của báo Bild đã được chứng kiến cảnh bà Gisela tự tay nâng ly cà phê lên miệng con trai, Christian đã nói một cách hài ước rằng: "Vì cà phê mà uống bằng ống hút sẽ không thấy ngon". Mặc dù là người khuyết tật, nhưng Christian vẫn được đến trường như các trẻ em bình thường khác, anh đã tốt nghiệp phổ thông với điểm trung bình 2,2 (Điểm 1 của Đức tương đương với điểm 9-10 của Việt Nam - ND). Christian có rất nhiều bạn bè, những ánh mắt tò mò không làm cho anh phiền lòng. Christian nói: "Tất nhiên là tôi nhận ra ánh mắt ấy, nhưng tôi làm quen với những người đó rất nhanh để rồi sau đó, chúng tôi được vui đùa cùng nhau".


Christian lúc còn nhỏ. Ảnh : Tư liệu gia đình

Tại nhà, thế giới xung quanh của Christian được điều khiển bằng âm thanh. Anh chỉ cần ra các lệnh như: "Mở cửa, hạ rèm cửa sổ hay tắt đèn…" là lập tức được thực thi. Để viết thư điện tử cho bạn bè, Christian cần một thiết bị hỗ trợ để nhận tín hiệu từ miệng của người viết. Christian còn có thể chơi Keyboard và mơ ước một ngày nào đó sẽ được tham gia vào một buổi hòa nhạc. Chàng trai "vô chi" còn là một người rất thích bóng đá, anh đặc biệt thích câu lạc bộ Hansa Rostock. Anh cho biết : "Tôi có thể làm được nhiều điều như những người bình thường khác, sắp tới đây, tôi sẽ tham gia một khóa học về Ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền thông ở Luebeck".

Chiếc xe lăn này giúp cho anh di chuyển mỗi khi ra ngoài.

Để người giúp đỡ cho Christian có thể đưa anh đi đến nơi về đến chốn, cần phải chi 26.000 Euro để cải tiến chiếc xe ô tô, nhưng cơ quan bảo hiểm hưu trí từ chối thanh toán khoản chi này. Điều đó buộc Christian phải kiến nghị lên tòa án để đòi quyền lợi của mình, và còn vì tương lai của anh nữa. Christian với cái nhìn cương nghị đã bày tỏ mong muốn : "Tôi muốn tự lập, muốn tự mình kiếm ra tiền. Bởi đến một lúc nào đó, người mẹ thân yêu của tôi sẽ không thể chăm lo cho tôi được nữa. Một gia đình riêng sẽ đem lại cho tôi niềm vui vô hạn. Nhưng có ai biết được rằng, cái gì đang chờ ở phía trước…"

LÊ QUÂN

2012/02/26

Nguyễn Tấn Dũng trước Loạn Kiêu Binh



Nguyễn Tấn Dũng trước Loạn Kiêu Binh

Ngô Nhân Dụng

Tiến sĩ Trần Ngọc Thành, một đảng viên cộng sản đã từ bỏ đảng,đang sống ở Ba Lan, trong nhiều năm qua đã tranh đấu bênh vực cho các người lao động Việt Nam bị con buôn bóc lột, như ở Mã Lai, ở Trung Đông. Ông vừa kêu gọi các nhà tranh đấu trong nước: Phải thành lập chi hội, huyện hội, tỉnh hội Dân Oan và Liên Hiệp Hội Dân Oan trong cả nước. Đồng bào nông dân các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Đông, Hưng Yên, Đắk Nông, đang cần những Hội Dân Oan.Đồng bào có thể làm được. Tinh thần dũng cảm của Đoàn Văn Vươnđã mở ra những tia hy vọng. Một phong trào nông dân tranh đấu bất bạo động trên toàn quốc sẽ có thể dẹp "Loạn Kiêu Binh" trong lúc đảng Cộng sản đang trên đường theo các ông chúa Trịnh.

Nông dân từ Nam Định lại kéo lên Hà Nội khiếu kiện về đất đai. Hai ngày trước, Blog Nguyễn Xuân Diện đã đăng hình ảnh bà con nông dân Dương Nội (Hà Đông), Văn Giang (Hưng Yên), và Đắk Nông đi biểu tình trước các cơ quan chính quyền, đòi giải quyết các yêu cầu của nông dân từ nhiều năm mà đảng Cộng sản vẫn bỏ qua. Phong trào tranh đấu mới này là hậu quả của Biến cố Đoàn Văn Vươn. Khi cương quyết chống lại những kẻ cướp đất của mình, Đoàn Văn Vươn đã khơi dậy lên tinh thần tranh đấu chống cường quyền của những người thấp cổ bé miệng nhất nước ta.

Người nông dân không sợ nữa. Một bằng cớ: Người ta đã dám tự xưng tên tuổi khi được nhà báo hỏi. Một cụ bà 63 tuổi cho Nhà báo Trần Định biết tên cụ là Vũ Thị Thu. Bà đòi trả lại đất ruộng đã bị nhà nước trưng thu để làm Khu đô thị Thương mại và Du lịch Ecopark. "Họ lấy đất ba năm nay màkhông nói gì cả thì chúng tôi đòi thôi." Gia đình bà có bảy người và họ không có tiền mua đất ở nơi khác, "Chúng tôi muốn lấy lại đất nông nghiệp – cho con cháu." Ông Trần Định nói rất đúng: "Đoàn Văn Vươn trở thành người có công trong việc xé toang bầu trời ảm đạm che phủ hy vọng của nông dân Việt Nam."

Nhưng bầu trời của đảng Cộng sản thì đang tối tăm. Trần Định nhận xét: " .. tình trạng trên bảo dưới không nghe, vô chính phủ, quân hồi vô phèng ngang nhiên diễn ra ở Hải Phòng, đang là trái nổ mang tính dây chuyền."Cảnh "quân hồi vô phèng" này cũng có thể gọi tên là "Loạn Kiêu binh."Nguyễn Tấn Dũng họp báo "giải quyết" vụ cướp đất của Đoàn Văn Vươn; tuyên bố tất cả các quyết định lấy đất của ông Vươn là sai, việc phánhà ông Vươn là sai; nhưng cuối cùng các tên đầu sỏ gây ra lại chỉ được lệnh "tự kiểm điểm với nhau" mà thôi! Nguyễn Tấn Dũng vừa nói xong, cả nước Việt Nam được chứng kiến cảnh họ "kiểm điểm" như thế nào!

Ngày 17 tháng Hai, Bí thư Hải Phòng Nguyễn Văn Thành lại họp các cán bộ trung cao cấp nghỉ hưu công khai tuyên bố "khẳng định rằng ôngĐoàn Văn Vươn đã làm sai, chứ không phải là huyện Tiên Lãng sai." Tức làhoàn toàn nói ngược lại những kết luận của Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều cán bộ cũ cũng phải nổi nóng lên và phản đối, nhưng tất nhiên cũng phải cúi đầu chịu nhục! Kết quả việc "kiểm điểm" càng khiến lòng người phẫn nộ, cả nước phẫn nộ, không riêng gì người dân Hải Phòng.

Tên dẫn đầu hàng trăm cảnh sát, công an, bộ đội và du côn đi phá nhà làĐại tá công an Đỗ Hữu Ca, phó chủ tịch thành phố Đỗ Trung Thoại và bèlũ chỉ bị "tạm đình chỉ công tác 15 ngày" để "kiểm điểm đúng quy trình vàquy định của điều lệ Đảng." Họ viện dẫn "điều lệ đảng," nghĩa là họ chỉ cótrách nhiệm trong đảng xử lẫn nhau, bao che cho nhau, không cần biết đến luật pháp quốc gia nào cả.

Tên Đỗ Trung Thoại còn phạm tội "Vu cáo cho dân cả huyện Tiên Lãng"khi xưng xưng nói là "Nhân dân bức xúc" đã tự động đến phá nhà anh emông Đoàn Văn Vươn. Vu khống tất cả mọi người một cách công khai trâng tráo như vậy, mà chỉ phải "tạm nghỉ" 15 ngày sao được? Bọn đàn em cấp huyện, cấp xã, những tay được hưởng lợi trực tiếp trong vụ cướp đất, cũng chỉ bị "tạm đình chỉ công tác," tức là cũng chỉ chịu trách nhiệm trước đồngđảng của họ, chứ không người nào chịu tội trước gia đình nạn nhân Đoàn Văn Vươn hay người dân trong xã, trong huyện, và trước pháp luật quốc gia.Có một nước nào mà những kẻ đi cướp đất, phá nhà của người dân mà lại không bị truy cứu tội phạm, mà lại được quyền tự họp nhau rút tỉa kinh nghiệm, ưu khuyết điểm với nhau hay không? Phải gọi đó là tình trạng "một quốc gia trong quốc gia," hay là một thứ"Loạn Kiêu binh" rồi!

Nhưng đám kiêu binh ở Hải Phòng vẫn chưa thỏa mãn. Bị cả nước vạch mặt chỉ tên, tự ái của họ đã bị đụng chạm nặng nề. Họ còn nhu cầu rửa nhục. Sau khi đã "tuyên án" đình chỉ công tác 15 ngày như "đi nghỉ hè bất đắc dĩ,"họ phải "ra tay" lần nữa, sai bọn côn đồ đến phá cả tấm lều cư ngụ mà giađình Đoàn Văn Vươn đã dựng lên trên nền nhà cũ. Cả nước lại được chứng kiến trên mạng những hình ảnh các nạn nhân mò mẫm đi lượm các mảnh vụn của bàn thờ bị phá. Nền nhà cũ của ông Đoàn Văn Vươn có cả một đám công an canh gác. Nhưng khi có nhà báo hỏi tại sao họ không ngăn cản những kẻ đi phá nhà người ta, mấy tay công an trả lời tỉnh bơ: Không thấy. Không thấy ai đến phá cả! Mấy anh công an này tỏ ra thông minh hơn ông phó chủ tịch Đỗ Trung Thoại, cho nên không ai nói đó vẫn là "Nhân dân bức xúc!"

Tại sao họ phải "đánh bồi" vào gia đình Đoàn Văn Vươn một lần nữa như vậy? Không phải chỉ vì họ thù ghét gia đình Đoàn Văn Vươn, thùđến xương tủy; mà còn có nhu cầu chứng tỏ uy quyền của chính họ. "Phải làm cho biết phép tao!" Họ cần chứng tỏ là họ không hề sợ sệt quyền hành nào cả "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!" Không những không sợ bị"thằng nào con nào," kết tội những việc họ làm là sai, mà còn dám làm tiếp, làm tới, xem "có đứa nào" dám đụng tới "bọn ông" hay không! Phải gọi đólà một thứ "Loạn Kiêu binh!"

Vào thế kỷ 17, 18, cuối thời Trịnh Nguyễn phân tranh ở nước ta, khi nhàTrịnh suy đồi, đã để xẩy ra "Loạn Kiêu binh." Các Chúa Trịnh đã dựa vàođám quân thuộc ba phủ tuyển từ Thanh Hóa, Nghệ An. Đám này cậy công càng ngày càng đòi hỏi quyền lợi. Họ cũng bất chấp pháp luật. Năm 1674, lính tam phủ đã giết một quan tham tụng (tương đương với thủ tướng bây giờ) và phá nhà một vị khác. Có thể gọi đó là những "cú đảo chính" cungđình. Năm 1741, lính tam phủ lại phá nhà một quan tham tụng và định giếtông. Các ông chúa Trịnh muốn ngồi hưởng độc quyền cai trị miền Bắc, đãphải gọi bọn lính tam phủ này là "Ưu binh," một danh hiệu cũng giống như nói "Đảng viên ưu tú" ngày nay. Đám ưu binh được những đặc quyền kinh tế, sách nhiễu dân, đặt ra các thứ "phí" giống như các loại "phí" mà người dân bây giờ cũng phải đóng, chẳng theo luật pháp nào về thuế vụ cả. Một số tên đầu sỏ lính tam phủ quá ác cũng bị đưa ra xét xử, cho dân bớt oán thán. Nhưng trong thực tế chính quyền của các ông chúa Trịnh không thể nào bắt họ theo pháp luật được. Cho nên dân gọi họ là "Kiêu Binh."

Đến khi một ông chúa Trịnh phải "vận động" lính tam phủ để được lên ngôi thì đám kiêu binh này càng lộng. Năm 1782 Trịnh Khải nhờ lính tam phủ đảo chính để lên làm chúa, phế bỏ Trịnh Cán. Sau đó Trịnh Khải phong quan tước và trọng thưởng cho quân tam phủ. Đám kiêu binh càng kiêu hơn, đòi hỏi những mối lợi như thu lệ phí ở các trạm canh gác như cửa ải, chợ búa, bến đò, trên các đầm cá, hồ nước, trên các gò bãi, vân vân. Dân chúng khổ sở, thù hận thấm xương tủy, lính với dân coi nhau như kẻ thù.

Trong đảng Cộng sản hiện nay cũng có một đám "lính tam phủ" màthành phần tiêu biểu là những quan chức cán bộ từ cấp xã Vinh Quang, lên huyện Tiên Lãng, tới cấp thành phố Hải Phòng! Chính các đảng viên cộng sản cũng nhiều người là nạn nhân của đám kiêu binh này. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã được "cơ cấu" cho đắc cử đại biểu quốc hội ngay trong vùng huyện Tiên Lãng, do các tay em dưới trướng của đảng ủy thành phố và huyện "bố trí." Đối với Nguyễn Tấn Dũng, họ là những "đồng chí" và "đối tác kinh doanh" trong việc khai thác quyền hành để sinh ra các mối lợi trong vùng này.

Hải Phòng không phải là nơi duy nhất. Trên cả nước Việt Nam, những tay cầm đầu guồng máy đảng và nhà nước đều liên đới quyền lợi với nhau. Tất cả đều là giường cột của chế độ, dùng bộ máy công an để bảo vệ chế độ. Và tất nhiên họ phải khai thác quyền hành để kiếm lợi, theo quy luật kinh tế thị trường, là khi đầu tư thì phải kiếm lợi!

Biến cố Đoàn Văn Vươn bất ngờ mở một khe hở cho người ta trông thấy đám Kiêu Binh đó coi thường luật pháp và coi thường dư luận người dân như thế nào. Nhưng ở nước Việt Nam bây giờ có những Blog Cu Vinh của nhà văn Nguyễn Quang Vinh, của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Cónhững người bênh vực dân oan như cụ Lê Hiền Đức mà nhà tranh đấu Trần Ngọc Thành gọi là "Đại Lão Bà."

Tiến sĩ Trần Ngọc Thành, một đảng viên cộng sản đã từ bỏ đảng, đang sống ở Ba Lan, trong nhiều năm qua đã tranh đấu bênh vực cho các người laođộng Việt Nam bị con buôn bóc lột, như ở Mã Lai, ở Trung Đông. Ông vừa kêu gọi các nhà tranh đấu trong nước: Phải thành lập chi hội, huyện hội, tỉnh hội Dân Oan và Liên Hiệp Hội Dân Oan trong cả nước. Đồng bào nông dân các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Đông, Hưng Yên, Đắk Nông, đang cần những Hội Dân Oan. Đồng bào có thể làm được. Tinh thần dũng cảm củaĐoàn Văn Vươn đã mở ra những tia hy vọng. Một phong trào nông dân tranh đấu bất bạo động trên toàn quốc sẽ có thể dẹp "Loạn Kiêu Binh" trong lúc đảng Cộng sản đang trên đường theo các ông chúa Trịnh.

Ngô Nhân Dụng